Hành trình 1890–1969
Theo dấu chân Người
Hành trình 79 năm cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890–1969) là hành trình của một con người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho Nhân dân. Từ những năm tháng tuổi thơ tại quê hương Nghệ An, hành trình ra đi tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, đến quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, mỗi chặng đường đều gắn với những dấu mốc quan trọng của lịch sử dân tộc. Qua các sự kiện tiêu biểu trong cuộc đời và sự nghiệp của Người, hành trình này góp phần khắc họa rõ nét tư tưởng, bản lĩnh, nhân cách và những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc trên thế giới.
Thời niên thiếu của Người
Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên thời thơ ấu là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An) trong một gia đình nho học có 5 anh chị em. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862, từng đỗ Phó bảng và làm quan dưới triều nhà Nguyễn, sau đó vào Nam tham gia một số hoạt động yêu nước và hành nghề thầy thuốc cứu giúp dân nghèo. Cụ mất năm 1929 tại tỉnh Đồng Tháp. Thân mẫu của Người là cụ Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868, mất năm 1901, là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con. Lên 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên trong truyền thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù. Từ nhỏ, Người được học chữ Hán từ cha và các thầy giỏi trong vùng, được tiếp xúc với những người bạn của cha là các sĩ phu tiến bộ, từ đó góp phần hun đúc tinh thần yêu nước, thương dân và ý chí, hoài bão của Người từ sớm.
Người lần lượt theo học tại trường tiểu học Pháp - Việt ở Vinh, trường tiểu học Pháp - Việt ở Thừa Thiên, trường Quốc học Huế, Trường tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn và hoàn thành chương trình tiểu học. Trong thời gian đi học, Người tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp, các tư tưởng tiến bộ và tham gia nhiều hoạt động đấu tranh đòi quyền lợi cho đồng bào như cuộc chống thuế ở Trung Kỳ,...
Người vào Phan Thiết, đi dạy học ở trường Dục Thanh. Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp, từ đó càng thôi thúc Người tìm đường ra nước ngoài
Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn, ở tạm tại trụ sở các chi nhánh của Liên Thành công ty đặt tại Sài Gòn, như nhà số 3, đường Tổng đốc Phương (nay là số 5, đường Châu Văn Liêm); nhà số 128, Khánh Hội. Ở Sài Gòn một thời gian ngắn, anh thường đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những thanh niên cùng lứa tuổi và tìm cách xin việc làm trên tàu, thực hiện ước mơ có những chuyến đi xa.
Hành trình tìm đường cứu nước
Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lên con tàu Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc để bắt đầu hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc. Đó là kết quả của tấm lòng yêu nước thương dân, của những trăn trở rất sớm trước cảnh nước mất, dân lầm than và sự bế tắc của các con đường cứu nước cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Đó là kết quả của tấm lòng yêu nước thương dân, của những trăn trở rất sớm trước cảnh nước mất, dân lầm than và sự bế tắc của các con đường cứu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
““Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động bằng nhiều nghề khác nhau: từ phụ bếp, cào tuyết, thợ ảnh, thợ làm bánh,... Chính những năm tháng lao động trong gian khổ đã giúp Người nhìn thấy rõ hơn bản chất áp bức của chủ nghĩa thực dân, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều dân tộc thuộc địa khác.
“Ở đâu bọn đế quốc cũng dã man, tàn bạo, ở đâu giai cấp công nhân, những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề”
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, gồm 8 điểm yêu cầu Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Tuy bản yêu sách không được các nước đế quốc chấp nhận, sự kiện này đã đưa tên tuổi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện công khai trên diễn đàn chính trị quốc tế.
Sự kiện đưa tên tuổi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện công khai trên diễn đàn chính trị quốc tế.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin. Từ đây, Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc mình. Đây là bước ngoặt quyết định trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Từ một người yêu nước đi tìm đường cứu nước, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và xác định con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc.
Đây là bước ngoặt quyết định trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc: từ một người yêu nước đi tìm đường cứu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con đường cách mạng vô sản.
““Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên.””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến của Người từ một người yêu nước thành một chiến sĩ cộng sản.
Dấu mốc đánh dấu sự chuyển biến của Người từ một người yêu nước thành một chiến sĩ cộng sản.
Hoạt động cách mạng và chuẩn bị thành lập Đảng
Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa nhằm đoàn kết những người dân thuộc địa đang sống tại Pháp để lên tiếng chống chủ nghĩa thực dân và đấu tranh cho quyền tự giải phóng của các dân tộc bị áp bức, xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
““Hỡi Đông Dương đáng thương hại, ngươi sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của ngươi không sớm hồi sinh.””
Bản án chế độ thực dân Pháp (theo ghi chú trong tài liệu nguồn)
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Tại các đại hội, diễn đàn mà Nguyễn Ái Quốc tham dự, Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.
Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh”.
““Cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh.”; “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động.””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan) với tên mới “Thầu Chín”, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây, Người đến nhiều địa phương có đông Việt kiều sinh sống, vận động bà con đoàn kết, giữ gìn tinh thần yêu nước, xây dựng cơ sở cách mạng, biến lòng yêu nước của kiều bào thành một bộ phận của phong trào cách mạng dân tộc.
Tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lãnh đạo Nhân dân giành Độc lập
Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại biểu của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam để bàn về các vấn đề của cách mạng Việt Nam, hướng đến việc thành lập một Đảng cộng sản. Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam. tạo ra bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Tạo ra bước ngoặt quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.
Giai đoạn 1930 - 1931, Nguyễn Ái Quốc chủ yếu hoạt động dưới cái tên Tống Văn Sơ tại Hồng Kông. Không may bị chính quyền Anh bắt giam vào ngục Victoria. May mắn thay, Người đã nhận được sự giúp sức tích cực từ Luật sư người Anh Francis Henry Loseby. Cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã được trả tự do và rời Hồng Kông để đến Bắc Kinh sau đó lên đường sang Liên Xô tiếp tục hoạt động.
Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.
Tình hình Chiến tranh thế giới lần thứ II có nhiều biến chuyển. Nhận thấy thời cơ giải phóng dân tộc đang tới gần, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường về nước lãnh đạo cách mạng. - Trên hành trình về đến gần Tổ quốc, tháng 10-1940, Nguyễn Ái Quốc đã mở lớp huấn luyện cho những thanh niên ưu tú của Cao Bằng tại vùng biên giới Việt -Trung, chuẩn bị lực lượng làm nòng cốt cho cuộc trở về Tổ quốc của Người để xây dựng căn cứ địa cách mạng, trực tiếp chỉ đạo cách mạng trong nước đi tới thành công.
Tháng 1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.
““Dân tộc ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Trước yêu cầu mới của tình hình Cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Đồng thời, theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Đảng ta đã quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh).
Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh).
Trên đường sang Trung Quốc để tìm kiếm sự hỗ trợ của quốc tế trong công cuộc chống phát xít, không may, Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam vì nghi là gián điệp, rồi bị giải qua khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây, trải qua biết bao gian khổ, thử thách. Cũng chính trong thời gian một năm 14 ngày bị tù trên đất Trung Quốc, Người đã viết tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán.
Tháng 9/1943, sau hơn 1 năm bị giam, Hồ Chí Minh được trả tự do nhưng vẫn bị giữ lại “làm cố vấn”. Trong thời gian này, Người bí mật liên lạc với trong nước, giữ vững tinh thần và phục hồi sức khỏe. Đồng thời, Người tranh thủ xây dựng lực lượng, tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế.
Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng.
Thực hiện Chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, vào lúc 17 giờ ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại tại núi Dền Sinh dãy Khau Giàng thuộc xã Tam Kim và Hoa Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong giai đoạn quyết định. Trước tình hình thế giới và trong nước chuyển biến nhanh chóng, Người nhận định thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi và đề nghị triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng cùng Đại hội Quốc dân. Tại đây, theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam - tức Chính phủ lâm thời - được thành lập và Người được bầu làm Chủ tịch.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong thời gian ngắn, chính quyền đã về tay nhân dân ở hầu khắp các địa phương. Sự kiện này đã mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do.
Sự kiện mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do.
Lãnh đạo hai cuộc kháng chiến và Qua đời
Tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm, Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở đầu thời kỳ Việt Nam trở thành một nước độc lập.
“"Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". "Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập, khi mà dân được ăn no mặc đủ". “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.””
Hai câu đầu: Trích trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh; đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 17-10-1945. Câu còn lại: [Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể].
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt và ngày càng mở rộng quy mô, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được triệu tập, đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của Đảng cả về tư duy lý luận và tổ chức. Tại Đại hội, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam, tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo cao nhất của cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Người và Trung ương Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã từng bước giành thắng lợi, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Đại hội đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của Đảng về tư duy lý luận và tổ chức; cuộc kháng chiến từng bước giành thắng lợi, đỉnh cao là Điện Biên Phủ năm 1954.
““Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.” “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc.” “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua.””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Sau Hiệp định Genève, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Trong quá trình này, Người đặc biệt quan tâm đến việc phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và củng cố quốc phòng, nhằm xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc cho cả nước. Đây là giai đoạn thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược toàn diện và lâu dài của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Giai đoạn thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện và lâu dài của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
““Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi” “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc tiếp tục đảm nhận những trọng trách cao nhất của Đảng và Nhà nước cho thấy uy tín và vai trò đặc biệt của Người trong việc định hướng đường lối cách mạng trong bối cảnh đất nước vừa xây dựng vừa đấu tranh.
““Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đoàn kết, kiên cường chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để bảo vệ Tổ quốc. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, Người trở thành biểu tượng tinh thần lớn lao, cổ vũ ý chí và niềm tin chiến thắng của toàn dân tộc. Tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Người nêu ra đã trở thành kim chỉ nam cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Tư tưởng không có gì quý hơn độc lập, tự do trở thành nguồn cổ vũ tinh thần và kim chỉ nam cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.
““Không có gì quý hơn độc lập, tự do””
[Tài liệu nguồn chưa nêu nguồn câu nói cụ thể]
Ngày 2/9/1969, Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng, để lại niềm tiếc thương sâu sắc cho toàn Đảng, toàn dân và bạn bè quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là biểu tượng tiêu biểu của lòng yêu nước, ý chí cách mạng kiên cường và tư tưởng nhân văn sâu sắc. Những giá trị mà Hồ Chí Minh để lại không chỉ có ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam mà còn có sức lan tỏa rộng lớn trên thế giới, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cuộc đời và sự nghiệp của Người được tài liệu khái quát là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí cách mạng và tư tưởng nhân văn, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.